Lac Viet Humanistic Culture

Sunday, December 28, 2014

NGÔ ĐÌNH VẬN - CÂU CHUYỆN NHẠC TRUYỀN THỐNG / DÁNG DẤP CON SÁO


Bài viết này đã được đăng trên Tạp Chí Thế Kỷ 21
vào tháng Mười, tháng Mười Một năm 1994 và tháng Giêng, tháng Ba năm 1995.

Dáng dấp con sáo

Sinh mệnh của dòng dân nhạc Việt Nam, ở một số khía cạnh, đã giống như thân phận của loài sáo là loài chim mà ca dao Việt Nam đã có câu ví von “hót như sáo.”

Sáo không những đã hay hót mà lại hót hay nữa. Ở Việt Nam người ta có thể nghe được tiếng hót của loài chim này ở bờ tre, khóm chuối, bụi dứa, cành đa, vườn ổi… lúc sáng, ban trưa, buổi chiều, để nhận biết rằng nơi ấy, chỗ này đang bình yên, êm ả, vì sáo không thể hót ở những vùng bất an, đầy náo động được. Tiếng sáo hót lên là dấu chỉ của thanh bình, yên tĩnh.

Dân nhạc là hồn tính của cả một dân tộc trên suốt chiều dài của dòng lịch sử nhân loại. Ca dao, một thể loại quan trọng bậc nhất của dân nhạc Việt Nam, cũng có nhiều câu nói lên tính hay ca hát của người dân:

 “Hát cho chó cắn, bò lồng,
Hát cho con gái bỏ chồng mà theo.
Hát cho chó cắn, mèo kêu,
Hát cho ông lão trong lều bò ra.”

Hay là:

“Đố ai ngồi võng không đưa,
Ru con không hát anh chừa rượu tăm.
Đố ai chừa được rượu tăm,
Chừa ăn thuốc chín, chừa nằm chung hơi.
Có tôi chừa được mà thôi
Chừa ăn thuốc chín, chung hơi chẳng chừa.”

Tuy nhiên các đặc tính của cả người và chim cùng sống ở một xứ nông nghiệp hiền hòa ấy đã không thể tránh được cái thuyết “tài mệnh tương đố” mà thi hào Nguyễn Du  đã chọn làm chủ đề triết lý cho cả cuốn văn vần Đoạn Trường Tân Thanh tức là truyện Kiều với những câu mở đầu:

“Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.”

Có thể Trời ghen với cả người và chim nên dân Nam đã phải trải qua biết bao nhiêu cuộc bể dâu trong kiếp sống. Những con sáo hay hót cũng dễ rơi vào cảnh bất hạnh vì loài người thích bẫy để bắt nó đem nhốt vào lồng. Quái ác hơn, người còn bầy ra cái trò chơi dạy cho sáo tập hót tiếng người.

Người đè sáo ra, cạy mỏ, bóp cho lè lưỡi rồi cạo lột, nhét ớt bắt sáo ăn rồi sau đó dạy cho sáo học “ngoại ngữ” với mấy câu xã giao như “lậy ông, lậy bà, lậy cô, lậy cậu…”

Người nước Nam cũng vậy, trải qua rất nhiều thời kỳ đã rơi vào cảnh đô hộ, do đó rất ít khi nói được, hát được, chính tiếng lòng của mình.

Người dân luôn bị rơi vào cái cảnh gian truân, sống sót được đã là may mắn lắm rồi, thì cái hồn tính của dân tộc ấy là dân nhạc có bị mất mát, suy trầm cũng là điều dễ hiểu.

Chim và người ở nước Nam có vẻ khắng khít với nhau trong nhiều tình huống. Dân chúng cả nước ưa ngâm, ưa lẩy Kiều vì thấy câu chuyện bi phẫn này có cái bóng dáng của chính đời mình trong đó. Truyện kể một người con gái tài sắc mà luôn phải chịu cảnh đọa đầy, luân lạc.

Trong khi các con sáo bất hạnh bị nhốt trong lồng chỉ tìm cách sổ lồng mà bay.

Lý con sáo là một bài ca ngắn, bình dân. Có người giải thích Lý có cái nghĩa là nói về, nói về chuyện con sáo:

Ai đưa con sáo sang sông
Để cho con sáo sổ lồng bay xa."

Câu chuyện thật đơn giản, không biết ai đặt ra. Dân ca làm gì có tác giả. Dân ca là sự đóng góp của đại chúng. Không có xuất xứ rõ rệt, chưa ai có thể tìm tòi cho ra cái gốc tích, ngọn ngành “Rằng Là” ai, ở đâu, gặp hoàn cảnh gì mà đã lý tới chuyện con sáo.

Căn cứ vào việc thấy miền Nam hay Lý lắm nên người ta đoán rằng Lý xuất phát ở miền Nam, miền Nam ở đây lại phải hiểu là phía Nam của nước ta thời Trịnh Nguyễn phân tranh, từ 1533 đến 1788.

Lý con sáo giản dị, ngắn gọn nhưng đã được phổ biến trên khắp cả nước Việt Nam, tùy theo địa phương, đã thêm bớt những chữ đệm vào để cho thích hợp với thổ âm và lối hát của từng vùng .

Có thuyết còn nói rằng bài Lý Con Sáo Quảng (Quảng Nam) đã được vua Quang Trung Nguyễn Huệ chọn làm bài hát quân hành để cho quân sĩ của ngài nức lòng trên đường di chuyển mau lẹ ra Bắc mà quên bớt mệt nhọc. Dân cả nước Nam từ lâu rồi đã khát khao Tự Do, Thanh Bình, có thể đây cũng là một nguyên do khiến bài Lý Con Sáo đã được phổ biến sâu rộng trong dân gian, truyền từ đời này sang đời khác.

Dư luận bình thường, khi lý về dân nhạc Việt Nam hay nói rằng cái di sản ấy lớn lắm, nhưng lại mất mát quá nhiều, và tới “giờ đây” chỉ còn lối hơn 100 thể điệu với cả ngàn bài dân ca lời lẽ khác nhau.

Công việc tìm tòi dân ca Việt Nam thật giống như cảnh đi tìm kho tàng báu vật với một con số phỏng định tượng trưng nhưng thực tế thì chỉ thấy còn vài chục thể điệu cho các bài hát cũ. Chẳng hạn Trống Quân chỉ có một thể điệu dùng để hát cho tất cả các câu thơ theo lối lục bát.

Thoạt nghe việc đi tìm kho tàng dân nhạc Việt Nam, ai cũng cho là đáng làm. Nhưng đi sâu hơn một chút thì quả là một vấn đề vạn nan, rắc rối. Lớp bụi dĩ vãng quá dầy khó tìm ra được chân và giả.

Nội mấy câu ru cháu thôi cũng khó mà biết được thế nào là đúng hay sai:

“Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về
Bắt được con chuối con trê
Xách cổ lôi về cho cái ngủ ăn…”

Câu này đúng hay sai không ai có thể biết được, bởi vì trên sách vở đã có tác giả viết:

“…Bắt được mười tám con chắm, con trê…”

Con số 18 có ưu thế để cho cái ngủ ăn không hết nhưng lại có nhược điểm là cá chắm không ở đồng sâu mà nuôi trong ao.

Lại có sách ghi:

“…bắt được con cá trê râu…”

hay

“…bắt được con cá rô, trê…”

Ngay cả cử động của cái tay đưa cá về nhà cũng có nhiều khác biệt tùy theo tâm tính của người bắt cá và trình trạng sức khỏe của các con cá bị bắt! Có sách thì viết “túm cổ đem về”, có sách ghi “nắm cổ lôi về”, “Xách cổ đưa về.”

Câu nào là chính bản, câu nào là phụ bản, vả lại biết đâu tác giả của câu ru đó đã không có khuyết điểm. Cho nên cái việc “tam sao thất bản” là điều khó lòng tránh được.

Cụ Diệu Thư, 83 tuổi, quê ở Hải Dương, hiện cư ngụ tại Westminster, khi nghe chuyện tìm kiếm dân ca, đã đưa ra lời khuyến khích “việc làm này hay nhưng con đường thì hiểm hóc, gian nan lắm, không cẩn thận dễ bị rơi vào lệch lạc.”

Hiểm hóc, gian nan thế nào thì có chuyện cụ thể chứng minh ngay. Cụ Trần Thị Sương sinh năm 1912 tại Liễu Nha, Mỹ Lộc, Nam Định , bút hiệu Từ Phương, tác giả của một tập thơ và cũng là người em kết nghĩa của cụ Á Nam Trấn Tuấn Khải ngày trước, hiện ở Westminster, đã đưa cho chúng tôi một tập vở viết tay với 1161 câu ca dao, tục ngữ, rồi nói “chưa có hết đâu, tôi ngồi không, buồn nên viết lại…”

Cụ Từ Phương tiếp “chuyện ca dao đúng là hiểm hóc, khó khăn lắm.” Chẳng hạn như bài ca dao:

Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em đi lấy chồng anh tiếc lắm thay.
Thoạt vào anh nắm cổ tay
Sao trước em trắng mà rày em đen.
Hay là lấy phải chồng hèn,
Cơm sống canh mặn nó đen mất người.
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi từ ngày còn không
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng như cá cắn câu,
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra…”

Bài ca dao này, bình thường thì có vẻ là một bài hát thuần túy huê tình, diễn tả sự đối đáp của một cặp trai gái bị rơi vào cảnh ngang trái, nhưng cụ Từ Phương lại cho biết ngay từ năm 1949, khi ở Hà Nội, cụ đã được đọc trong một cuốn sách ghi rằng bài ca dao này có gốc từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Đây là việc Chúa Trịnh (không rõ Chúa nào) thấy ông Đào Duy Từ vào Nam giúp Chúa Sãi nhà Nguyễn làm được nhiều việc lớn nên đã tiếc, bèn truyền cho một vị đại quan đặt ra các câu đồng dao dạy cho trẻ con hát mà dụ ông Đào Duy Từ trở về đất Bắc.

Ông Đào Duy Từ do đó cũng đáp lễ bằng cách làm lại đồng dao để trả lời Chúa Trịnh. Cuộc đối đáp bằng đồng dao rất thi vị này đem ghép lại thành một bài ca.

Chuyện “Trèo lên cây bưởi” còn tiếp nối khi phe Bắc đưa ra câu đồng dao đánh vào nỗi nhớ nhà của những kẻ tha hương với câu:

“Có ai về tới đường Trong,
Nhắn nhe bố Đỏ (họ Đào nên gọi là đỏ) liệu trông đường về,
Ham danh lợi bỏ quê quán tổ,
Đất nước người dù có như không.”

Tới nước này thì ông Đào Duy Từ phải quyết liệt, dứt khoát trả lời:

“Có lòng thì giã (tạ) ơn lòng
Anh đừng đến nữa mà chồng em ghen.”

Trên đây cũng chỉ là một thuyết về chuyện Trèo Bưởi mà thôi, có người cho rằng đem đối chiếu với văn phong của ông Đào Duy Từ có phần lạc giọng. Vậy biết thế nào là thực, là hư.

Lại còn cái giai thoại về bài ca dao đầy tính khêu gợi nữa:

“Lấy chồng từ thuở mười lăm,
Chồng chê tôi bé không nằm với tôi.
Đến khi mười chín, đôi mươi
Tôi nằm dưới đất chồng lôi lên gường
Một rằng thương, hai rằng thương,
Có bốn chân gường gãy một còn ba.
Ai về nhắn với mẹ cha
Chồng tôi nó đã giao hòa với tôi.”

Cụ Từ Phương nói rằng bài ca dao này đã được giới đi làm Cách mạng chống Thực dân Pháp giải thích là vào năm 1919-1920 các bậc tiền bối Tăng Bạt Hổ, Tôn Thất Thuyết, Phan Bội Châu, và Nguyễn Thượng Hiền, lúc đó đang hoạt động ở bên Tầu làm ra. Nhóm bốn người qua Tầu vận động Tầu giúp Việt Nam từ 1915 nhưng Trung Hoa cứ lờ đi mãi tới năm 1919 thì Tầu mới ve vãn với nhóm này để mưu hợp tác chống thực dân Pháp ở vùng biên giới Hoa Việt, nhưng lúc đó cái “chân gường bị gẫy” là cụ Nguyễn Thượng Hiền đã mất ở bên Tầu.

Sở dĩ các cụ trong nhóm Cách mạng này phải đặt ra bài ca dao khêu gợi đó là nhằm mục đích tránh sự theo dõi của mật thám Pháp mà vẫn gửi được tin tức ở hải ngoại về cho các đồng chí ở quốc nội.

Giáo sư Lưu Trung Khảo hiện cư ngụ ở Newport Beach, cũng xác nhận với chúng tôi rằng “qủa thực tôi đã nghe được cái giai thoại này trong các giới hoạt động chính trị lúc trước.”

Tìm kiếm tài liệu dân ca Việt Nam về các mặt lịch sử, văn học, thể điệu, kỹ thuật… đều gặp khó khăn chẳng khác nào chuyện đi tìm cố nhân thất lạc:

“Tìm em như thể tìm chim
Chim ăn bể Bắc đi tìm bể Đông.”

Thăm hỏi qua Houston, tiểu bang Texas, chúng tôi được giới thiệu để tiếp xúc với cụ Nguyễn Văn Hòa. Cụ Hòa 86 tuổi, quê ở Thái Bình, đã cho biết rằng “tìm kiếm dân nhạc làm gì, mất mát quá nhiều, đời tôi nhiều lần chạy giặc, có ngờ đâu về già lại phải lưu lạc ở cái xứ lạ quê người này.”

Nói là nói thế, nhưng rồi sau đó cụ Hòa lại khuyến khích cứ gắng làm đi, nhiều ngưòi làm thì biết đâu câu chuyện “con sáo” không có ngày mọc lại lông cánh mà bay.

Cụ Hòa tâm sự là trong thời Việt Minh chiếm Thái Bình, các loại dân ca, các loại hò hát, ở vùng quê của Cụ đều bị liệt vào loại ca hát phong kiến, lạc hậu, ăn bám sức lao động. Đường lối triệt để bài phong (bài trừ phong kiến) của Việt Minh đã giết hết những gì là Truyền Thống, nhất là cuộc Cải Cách Ruộng Đất từ năm 1954 đến năm 1956.

Theo cụ Hòa thì những gì gọi là dân ca, dân nhạc miền Bắc còn sống sót được ít nhiều là do cái tập thể di cư gần một triệu người miền Bắc đã đem vào miền Nam trong số đó phải kể đến thành phần Văn Nghệ Sĩ Cổ Nhạc.

Một nghệ sĩ Cổ nhạc nhà nòi của đoàn hát gia tộc ở Hải Phòng là ông Lữ Liên cũng di cư vào Nam dịp đó. Ông Lữ Liên, 77 tuổi, gốc Hà Nam nhưng sinh ra tại Hải Phòng , là người xử dụng nhiều loại nhạc cụ cổ như đàn tranh, đàn sến, đàn bầu, hiện cư ngụ ở Nam California.

Kể lại dĩ vãng của một nghệ sĩ cổ nhạc suốt đời lận đận theo đuổi tổ nghiệp, ông Lữ Liên nói “bàn tới dân ca, dân nhạc của mình thật đau lòng, gần như cổ bản không còn gì cả. Xứ sở chúng ta gặp quá nhiều cảnh tang thương, đã thế trong giới nghệ sĩ của ta lại có nhiều người vì lầm lẫn đã nhúng tay vào việc làm mất đi tính cách truyền thống.”

Ông Lữ Liên tâm sự “bây giờ chúng ta còn tìm đâu ra được một người biết chơi đàn đáy, một loại nhạc cụ đặc thù của ngành hát ả đào theo đúng tiết điệu cổ bản.”

Một trong những người lầm lẫn làm hại cho dân nhạc, dân ca lại là nhà sưu khảo kiêm nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát. Ông Lữ Liên nói “ông Khoát sau thời kháng chiến đã từng tập hợp các bô lão lại để được nghe các vị tiền bối truyền cho các thể điệu, các cổ bản. Nhưng ông Khoát lại biến cải đi rất nhiều. Ông Khoát có sự lầm lẫn lớn là ông tưởng như vậy là bảo tồn được dân nhạc truyền thống nhưng làm như vậy đã khiến cho những gì là cổ bản, bị lệch lạc đi nhiều, từ đó các nhạc sĩ tân nhạc cứ dựa vào lối dân nhạc cải biên này và coi như đó là nhạc truyền thống của miền Bắc.”

Về hoạt động của các Văn nghệ sĩ Cổ nhạc di cư vào Nam, ông Lữ Liên cho biết thời đó chính sách của Đệ Nhất Cộng Hòa có nâng đỡ và khuyến khích việc bảo tồn cổ nhạc vì thế các ông Văn Thuật, Nguyễn Đình Tòng, Nguyễn Tiến Đức đã tụ họp được các nghệ sĩ cổ nhạc để có ba chương trình hát cổ bản trên đài phát thanh quốc gia, ấy là chưa kể tới nhiều chương trình cổ nhạc miền Nam nữa.

Tuy thế, theo ông Lữ Liên , vì hoàn cảnh xã hội Việt Nam lúc đó ồ ạt chạy theo trào lưu mới, phần khác ngành cải lương được dân chúng thích hơn nên các ban hát chèo, hát Bộ, ca Bắc, ca Huế, ca Nam theo cổ bản đã bị lấn át. Phần khác, vì vấn đề muôn thuở là kiếp người không qua khỏi được cái vòng sinh lão bệnh tử nên các nghệ sĩ cổ nhạc đã mất đi, đem theo cả di sản qúy báu của ngành nhạc truyền thống.”

Theo nhạc sĩ Lữ Liên “trải qua biết bao nhiêu tai họa của cả dân tộc, bây giờ người ta chỉ còn thấy những gì là dân nhạc truyền thống ngày ngày trôi vào dĩ vãng, mờ ảo như một hình bóng chập chờn…”

Ngô Đình Vận
Santa Ana, California 1994


(Còn Tiếp)




Saturday, December 27, 2014

NGÔ ĐÌNH VẬN – TẠP LUẬN 7: KHỔNG TỬ BỊA ĐẶT RA CỔ TÍCH VỚI MƯU MÔ KHÔI PHỤC NHÀ CHU



Khổng Tử nói: “Ta chỉ thuật lại chứ không sáng tác, tin tưởng và yêu thích cổ xưa, ta nghĩ ta giống như Lão Bành vậy”, Lão Bành được Chu Hi chú thích là một vị quan lớn đời nhà Thương thích sưu tầm chuyện cổ.

Chính khách Khổng Tử đã mưu mẹo nói như thế nhằm giảm các sự thắc mắc của đám học trò, của những kẻ cùng thời với ông về những điều ông kể từ thời Nghiêu, Thuấn cách xa thời đại Xuân Thu trên 2500 năm. Nghiêu, Thuấn (Yao, Shun) là hai thời đại được xếp vào loại nửa Huyền sử, nửa Lịch sử.

Cái chữ “thuật lại” được các tác giả dịch Luận Ngữ sang Anh Ngữ dùng khác nhau; chẳng hạn Athur Waley dịch là “Transmitter”; Leonard A. Lyall thì dùng chữ “A teller” và chú thích rằng “of old P’eng we should be glad to know more, but the rest is silence”.

Khổng Tử giao hẹn là chỉ “thuật lại” chuyện cổ, nhưng muốn kể lại một chuyện đã qua thì phải nghe được bằng lời truyền khẩu hoặc đọc qua sách sử hay sờ mó được các vật thể của người xưa lưu lại. Do đó Khổng Tử đã không ngần ngại dựa vào một số truyền thuyết rồi “vẽ rắn thêm chân” dùng những chuyện ấy để dạy học trò. Sách Luận Ngữ rất nhiều chỗ ghi lại chuyện Khổng Tử nói về vua Thuấn thế này, vua Nghiêu thế kia khiến ngay cả học trò của ông cũng ngờ vực, thắc mắc.   

Theo nhiều sách Khổng Tử năm 28 tuổi (khoảng 518 trước Công Nguyên) đã nổi tiếng là người học rộng, biết nhiều. Ông còn thu nhận hàng loạt học trò nữa; cũng năm này ông được vua Lỗ cấp xe ngựa, tiền bạc, đầy tớ để tới Lạc Ấp kinh đô cũ của nhà Chu mà nghiên cứu vế văn hóa, chính trị, học thuật cổ. Theo Luận Ngữ thiên Bát Dật trang 63 do Nguyễn Hiến Lê dịch có đoạn rằng “Khổng Tử vào Thái Miếu, thấy việc gì cũng hỏi. Có kẻ bảo: - Ai bảo con người dất Trâu (quê hương Khổng Tử ở nước Lỗ) ấy biết Lễ; Nếu biết thì sao vào Thái Miếu thấy gì cũng hỏi. Khổng Tử hay được bảo: - Như vậy là Lễ đấy.”

Cũng trong dịp này, Khổng Tử đã gặp Lão Tử để hỏi về Lễ. Lão Tử đã can Khổng Tử bớt hăng đi; sách Lịch Sử Triết Học Đông Phương của Nguyễn Đăng Thục dẫn Sử Ký có đoạn viết về lời khuyên của Lão Tử đại ý: “Những điều ông nói thì người và xương đều nát cả rồi chỉ còn lời nói thôi… Người hãy bỏ cái khí sắc kiêu ngạo cùng lòng ham muốn của người đi…” Khổng Tử tới kinh đô cũ của nhà Tây Chu cách thời Khổng Tử khoảng trên 500 năm mà Lão Tử lại bảo là các chuyện cũ chỉ còn truyền thuyết thì các chuyện về đời Nghiêu, Thuấn xa xưa lúc sinh hoạt còn là bộ lạc thì những chuyện cũ đâu còn gì nữa.

Về việc học bằng cách đọc sách thời Xuân Thu theo các tài liệu lịch sử như Tả Truyện, Sử Ký, History of China from Wikipedia, Shang Hanasty, Xia Dynasty… chúng ta có được các sự kiện tóm tắt như sau: Sách cổ trước thời Xuân Thu thì đã có một số gọi là Lục Nghệ gồm: Thi, Thư, Lễ, Nhạc… sách Lịch Sử Triết Học Đông Phương trang 222 trích lại: “Quốc Ngữ nói về vua nước Sở, Thái Tử Sở Trang Vương là Thái Tử đã được học bằng sách Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân Thu (Sử của từng nước đều dược gọi là Xuân Thu). Như thế Khổng Tử chỉ là người đầu tiên đem Lục Nghệ ra ngoài cung đình dạy cho thường dân.”

Trở lại việc Khổng Tử nói chỉ “thuật lại chuyện cổ” nhưng điều mâu thuẩn nhứt là trong sách Trung Dung đời Chiến Quốc được coi là của Tử Tư lại có câu ghi rằng “Tổ Thuật Nghiêu Thuấn” có nghĩa là kể lại chuyện Nghiêu Thuấn như bậc tổ của mình. Từ sự kiện này một số các nhà nghiên cứu Khổng Học cận đại gồm cả Đông Phương và Tây Phương cho rằng Khổng Tử đã chế ra Ngu Thư tức là Kinh Thư vào đời Thuấn gồm 5 thiên kể chuyện chính sự, sinh hoạt của hai triều Đường Nghiêu và Ngu Thuấn.

Về vụ Ngu Thư theo các sách sử mà chúng ta đã tham khảo như được liệt kê ở trên thì thấy rằng Ngu Thư là sách giả vì theo sử liệu chữ viết chỉ dược sáng tạo vào đời nhà Thương (1600-1046 TCN). Loại chữ được gọi là Giáp Cốt Văn được tìm thấy đầu tiên ở An Dương thuộc Tỉnh Hà Nam nước Trung Hoa; chữ được khắc trên mai rùa gọi là Giáp và trên xương thú gọi là Cốt; cũng vào đời nhà Thương đã có người viết một số sách là Hữu Tướng Y Doãn.

Chuyện làm “hàng giả văn hóa” trong kho tàng học thuật Trung Hoa thật sự đã được Trang Tử đề cập tới từ thời Chiến Quốc (476-221 TCN); để hiểu rõ hơn về việc bịa đặt sách cổ chúng ta thấy được ý kiến của Hồ Thích được dẫn trong sách Trung Quốc Triết Học Sử Đại Cương do Huỳnh Minh Đức dịch ở các trang 46, 47 như sau: “Đọc sách xưa, ta nên biết lý do vì sao có mọi thứ sách ngụy tác. Thứ nhất, có một số người chủ trương lại e sợ tự mình không có uy tín, không đủ tin cậy cho nên thường mượn tên cổ nhân, Trang Tử gọi là Ngu Ngôn tức chỉ vào chủ trương đó vậy. Khang Hữu Vi rất có lý khi gọi chủ trương đó là Thác Cổ Cải Chế.

Cổ nhân mỗi khi nói gì thường xưng Nghiêu Thuấn, đó chỉ vì niên đại của Nghiêu Thuán quá xa xưa, nên chúng ta có đủ tự do lấy chế độ lý tưởng của chúng ta mà đẩy vào thời đại Nghiêu Thuấn. Tức như sách Hoàng Đế Nội Kinh giả thác của Hoàng Đế, sách Chu Bi Toán Kinh giả thác của Chu Công. Đó là một chứng minh. Hàn Phi Tử nói rất đúng: - Khổng Tử, Mặc Tử cầu đạo Nghiêu Thuấn, nhi thủ xá bất đồng giai tự vị chân Nghiêu Thuấn bất phục sinh, tương thùy sử định Nho, Mặc thành hồ. Có nghĩa là: - Khổng Tử, Mặc Tử nói Nghiêu, Thuấn mà chỗ giữ lại, chỗ bỏ đi không giống nhau và tự cho là mình nói đúng Nghiêu, Thuấn. Nghiêu, Thuấn không sống lại biết ai quyết định xem Nho, Mặc đằng nào thật.

Thứ hai: một số người vì tiền, nên cố ý ngụy tác cổ thư. Thử xét đời Hán ra lệnh sưu tầm sách còn sót lại và cac Vương gia, Quý tộc cạnh tranh tìm các sách đó ta biết ngay rằng thời bấy giờ làm sách giả có thể kiếm được nhiều tiền. Vậy làm sach giả và làm đổ cổ giả đều có tâm trạng như nhau; họ chỉ nghĩ đến tiền, cho nên cố gắng ngụy tác nhiều chừng nào càng có tiền nhiều chừng đấy.”

Trở lại việc bịa sử về Nghiêu, Thuấn; có thuyết nói rằng cái món “hàng giả Ngu Thư” không phải do Khổng Tử làm ra mà do một nho sĩ đời Hán thực hiện. Chúng ta có thể chấp nhận rằng: Khổng Tử không viết Ngu Thư cũng không sao cả nhưng chuyện Khổng Tử nói rất nhiều về Nghiêu, Thuấn, Văn Vương, Võ Vương, Chu Công thì được ghi lại đầy dẫy trong Luận Ngữ thì làm sao các đệ tử Khổng Nho tranh cãi cho nổi.

Mặt khác, chúng ta có thể nhận thấy cả một “sự nghiệp bịa dặt vĩ đại” của Khổng Tử xuyên qua các lời lẽ của ông đã dạy dỗ đệ tử nhằm giải thích về Thi, Thư, Lễ, Nhạc… nhưng mục tiêu của ông đều nhắm tới chính trị là muốn khôi phục nhà Chu. Để chứng minh về điều này chúng ta có thể dẫn vài chuyện tiêu biểu:

Thứ nhất, Khổng Tử hết lời khen ngợi Nghiêu, Thuấn; Luận Ngữ do Nguyễn Hiến Lê dịch ở các trang 147, 148 như sau: “Khổng Tử nói: Vòi vọi thay, ông Thuấn và ông Vũ được thiên hạ (làm vua) mà chẳng lấy làm vui (chẳng hưởng vinh hoa phú quý). Khổng Tử nói; - Lớn thay sự nghiệp làm vua của ông Nghiêu, ông Thuấn. Vòi vọi thay, chỉ có trời là vĩ đại và chỉ có vua Nghiêu theo được trời. Lồng lộng thay dân chúng tìm được lời nào để khen cho đúng (đức nghiệp) của ông. Vòi vọi thay sự thành công của ông. Rực rỡ thay, Lễ, Nhạc và chế dộ của ông. Ông Thuấn có năm hiền thần mà thiên hạ thịnh trị…”

Trong sách Luận Ngữ còn có cả thiên Nghiêu viết: “Khi nhường ngôi cho ông Thuấn vua Nghiêu bảo: - Hỡi ông Thuấn, mệnh trời tuần hoàn, nay ngôi vua về ông; ông nên thành thực giữ đạo trung chính, nếu dân trong bốn bể khốn cùng, thì lộc trời (ban cho ông) sẽ mất hẳn đấy; về sau vua Thuấn lại truyền những lời đó cho ông Vũ.”

Cũng theo Luận Ngữ trang 118 ghi rằng: “Khổng Tử nói: - Trung dung là đức cực đẹp vậy. Từ lâu rồi người ta ít có đức đó”.

Từ việc đề cao Trung Dung ở Luận Ngữ chúng ta còn thấy Tử Tư kể lại chuyện Khổng Tử diễn tả vua Thuấn hiểu và dùng đạo Trung Dung được Nguyễn Hiến Lê trích dịch trong sách Khổng Tử trang 144 như sau: “Khổng Tử nói: - Vua Thuấn là bậc đại trí, vua Thuấn ưa hỏi, ưa xét những lời nói gần, dấu điều xấu, biểu dương điều thiện, nắm hai đầu nối lấy cái chính giữa mà dụng với dân vì thế mới là vua Thuấn vậy”.

Cũng dịch đoạn này Sào Nam Phan Bội Châu trong Khổng Học Đăng đã dịch khác ở các trang 324, 325 như sau: “Trung dung mà gọi bằng ác, có lời đúng trung dung mà gọi bằng thiện. Vua Thuấn xét cả hai phía đó, lời nói gì ác thời dấu lấp, lời nói gì thiện thời biểu dương (ẩn ác nhi dương thiện) ẩn ác nghĩa là che dấu những lời xấu của người; dương thiện nghĩa là nên tỏ những lời lành của người. Thấy những đạo lý hay ở trong lời nói lành, tuy có hai múi, có cái chếch về phía cao, có cái chếch về phía thấp, có cái thiên về phía tả, có cái thiên về phía hữu, vua Thuấn nắm lấy cả hai múi ấy (chấp kỳ lưỡng đoạn) đo lường, cân nhắc, lựa cái đạo lý vừa chính chung mà thi hành mọi việc với dân… vì hay dùng lấy đạo chung ấy mà ở với dân thế mới thành được đại chí như vua Thuấn vậy”.

Qua lịch sử Trung Hoa chúng ta biết rằng thời Nghiêu, Thuấn nếu có thì sinh hoạt chỉ là những bộ tộc du mục; tình trạng xã hội của Trung Hoa chỉ có được định cư, định canh vào thời vua thứ 19 của nhà Thương là Bàn Canh (1312-1313 TCN) sau khi dời đô sang dất Ân ở Hà Nam và từ đó mới có tên Ân Thương.

Từ sự kiện nêu trên chúng ta thấy Khổng Tử đã tưởng tượng ra đủ chuyện tốt đẹp để tô vẽ về thần tượng Nghiêu, Thuấn của ông. Một điểm cần được đối chiếu ở đây là vua Thuấn có thực sự tử tế hay không?

Theo Wikipedia thì Trúc Thư Kỷ Niên (Zhushu, Jinian) biên niên sử của nước Ngụy viết trên thẻ tre. Bộ sử này được chôn cùng với Ngụy Tương Vương chết năm 296 trước Công Nguyên; tới đời Tấn Vũ Đế năm 281 Công Nguyên mới tìm thấy bộ cổ thư này. Theo chữ viết trên thẻ tre ghi: Thuấn bắt giam Nghiêu ở Bình Dương rồi cướp ngôi vua. Thuấn còn không cho con của Nghiêu là Đan Chu vào ngục thăm cha.

Một chuyện khác nữa là Khổng Tử bịa đặt luôn nhạc Thiều đời vua Thuấn; chúng ta thấy Khổng Tử khen nhạc Thiều ở sách Luận Ngữ trang 70 do Nguyễn Hiến Lê dịch như sau: “Khổng Tử khen nhạc Thiều cực hay lại cực tốt lành, nhạc Võ cực hay nhưng chưa cực tốt lành”. Cũng vẫn theo Luận Ngữ trang 126 ghi: “Khổng Tử khi ở Tề, nghe nhạc Thiều, ba tháng liền không biết mùi thịt, bảo: Không ngờ nhạc đó tác dộng tới ta đến như vậy. Có người dịch không ngờ vua Thuấn làm được khúc nhạc tận thiện, tận mỹ như vậy”.

Tuy nhiên theo một số sử sách Trung Hoa thì nhạc đời nhà Chu sau Nghiêu, Thuấn cả 2500 năm cũng bị mai một. Các vua nhà Chu ở thời Xuân Thu chỉ ở ngôi vua làm vì, phải dựa vào một trong Ngũ Bá che chở. Có vua Đông Chu không còn dất đai nên phải ở nhờ chư hầu đến nổi ngay lễ lên ngôi cũng không làm nổi. Các quan nhạc sư nhà Chu không còn chỗ dung thân phải di cư qua các nước chư hầu, đi tìm nghề khác để sinh sống, kẻ nào còn yêu thích âm nhạc thì phải pha trộn với nhạc của các nước lân bang nên nhạc nhà Chu cũng trở thành “tam sao thất bổn” mai một chẳng còn lại được bao nhiêu. Chúng ta tự hỏi Khổng Tử dùng phép nào để đi ngược quá khứ tới 2500 năm trước để biết được thế nào là cái hay, cái đẹp của đời Ngu Thuấn.

Nhiều sách sử viết về Ngu Thư nhưng đối chiếu thì có rất nhiều điểm khác nhau, có khi mâu thuẫn nữa. Theo Hán Thư, phần Nghệ Văn Chí đoạn số 10 có ghi rằng: “Cuối đời Hán Vũ Đế, Lỗ Cung Vương trong khi phá nhà Khổng Tử để xây rộng nhà mình ra, tìm thấy sách cổ Thượng Thư, Luận Ngữ, Lễ Ký, Hiếu Kinh đều là chữ cổ. Cung Vương bước vào trong nhà nghe thấy tiếng đàn nhạc, chiêng, trống. Sợ hãi ông ra lệnh thôi không phá hủy. Khổng An Quốc dòng dõi Khổng Tử được giữ tất cả các sách đó”.  Khổng Học Đăng trang 260 do Phan Bội Châu viết đã trích dẫn Ngu Thư, giải thích về ngôn từ dùng trong thiên “Nghiêu Điển”. Sách truyện Khổng Tử của Đoàn Trung Còn ở trang 81 viết: “Kinh Thư tức là bộ truyện, bộ sử chép các lời Điển, Mô, Huấn, Cáo, Thệ Mạng của vua thánh, tôi hiền khuyên răn nhau, từ đời vua Nghiêu, vua Thuấn tới đời Đông Châu của Khổng Tử”.

Sách Lịch Sử Triết Học Đông Phương của Nguyễn Đăng Thục tập 1, trang 223 trích Trang Tử có câu giải thích “… Thi để dạy về Chí, Thư để dạy về Việc, Lễ để dạy về Đức Hạnh, Nhạc để dạy về Hòa, Dich để dạy về Âm Dương, Xuân Thu để dạy về Danh Phận”. Cuốn Khổng Tử của Nguyễn Hiến Lê thì viết: “Tóm lại các học giả ngay nay cho rằng những sách đời Xuân Thu mà Khổng được đọc chỉ có ít bộ sử của một số nước (nhất là Lỗ, có thể Chu nữa), Kinh Thi, Mươi Thiên trong Kinh Thư, một số thiên trong Kinh Lễ (không biết những thiên nào), Kinh Nhạc và bộ sách bói tức Kinh Dịch. Di sản đời Tây Chu để lại cho thời ông đại khái có bấy nhiêu, còn công ông san định các kinh đó thì chưa có gì chắc chắn cả”.

Trở lại trong suốt thời trai trẻ của Khổng Tử, ông bị ám ảnh bởi khát vọng phục hưng chế độ nhà Chu, nhưng ông càng bôn ba, suôi ngược thì càng gặp trở ngại đến nổi chính ông cũng chán nản. Theo Luận Ngữ thiên Thuật Nhi trang 122 có câu “Tử nói, ta đã suy lắm rồi, từ lâu không còn mộng thấy ông Chu Công”.

Sau khi Khổng Tử mất, đám đệ tử của ông chia làm tám phái và phái nào cũng tự xưng là chính thống; tuy nhiên, theo Hồ Thích thì nhận xét rằng: “Nói về học thuyết chính truyền của Khổng Môn, chúng ta có thể xem Tử Hạ, Tử Du, Tăng Tử như những người đại biểu”.

Thực ra, Khổng Nho đã bị “ế hàng” từ đời Xuân Thu qua đời Chiến Quốc, về việc này LSTHPĐ trang 282 chép lại nhận định của Hàn Phi Tử: “… Ngày nay có kẻ khen đạo của Ngiêu, Thuấn, Thang, Vũ mà đem áp dụng vào đời nay tất sẽ làm cho các bậc thánh cận đại phải buồn cười. Bởi thế mà các bậc thánh không mong thực hành cổ tục, không bắt chước cái gì được coi như đúng mãi mãi. Họ luôn luận bàn thế sự và sửa soạn cho hợp thời”.

Cũng chính vì Khổng Học “ế hàng” trong thời Chiến Quốc giữa trào lưu : ”Bách Gia Tranh Minh” đến nổi Mạnh Tử đã có thái dộ cực đoan đưa ra ý kiến “Độc Tài, Nho Trị”. Sách LSTHPĐ tập 2 trang 78 ghi lới Mạnh Tử: “Cái đạo của họ Dương, họ Mặc chẳng diệt tắt đi, thì cái đạo ông Khổng chẳng rõ rệt, ấy chỉ vì những tà thuyết làm mê hoặc dân, dầy lấp mất cả nhân nghĩa. Đường Nhân Nghĩa bị dầy lấp thì là giống loài thú ăn thịt người, mà loài cũng sắp ăn thịt lẫn nhau”.

Các học thuyết “Vị Ngã” của Dương Chu, “Khiêm Ái” của Mặc Định chỉ vì phản bác không chịu hùa theo Khổng Nho mà bị Mạnh Tử gọi là tà thuyết rồi mạt sát thậm tệ. Từ nhận xét độc đoán của người chủ trương “Tính Bản Thiện” là Mạnh Tử được cổ xúy vào đời Hán Vũ Đế với Đổng Trọng Thư dâng kế sách: “Bãi bỏ Bách Gia, độc tôn Nho Học” vào năm 116 trước Công Nguyên. Nối tiếp là các chế độ Quân Chủ Phong Kiến của Trung Hoa từ Tống, Minh, Thanh đều triệt để khai thác , áp dụng “Nho Học Độc Tôn” nhằm bảo vệ uy quyền của họ mà bịt mồn tất cả thiên hạ.

Từ nguyên do bịa đặt khởi đầu từ Khổng Tử, sau này các đệ tử Khổng Nho đua nhau “tống vào miệng” các vị tiền bối của họ đủ thứ linh tinh, nào là Khổng Tử chủ trương Tam Đại lấy ba dời Nghiêu, Thuấn , Chu dể làm mẫu mực đạo đức mà trị thiên hạ, nào là Tam Đại nói về tư tưởng Nhân, Trí, Dũng, nào là Tam Tài gồm Trời, Đất, Người. Tóm lại Khổng Tử bịa chuyện để dạy học trò, đệ tử bịa chuyện Khổng Tử đã trở thành cái “lề thói” kéo dài suốt đời này tới đời kia khiến hậu thế không còn biết “mặt mũi” của Khổng Nho thực hư ra sao nữa.

Khi nghiên cứu về một học thuyết người ta cần để ý tới cái kết quả của nó lợi, hại thế nào. Ở đây chúng ta ghi lại nhận định của Hồ Thích trong Trung Quốc Triết Học Sử trang 230: “Tôi nghĩ rằng Khổng Tử luận trí thức, chú trọng Nhất Dĩ Quán Chi, chú trọng suy luận, thật ra rất hay. Chỉ đáng tiếc là Ngài đem chữ Xem như một thứ học vấn mà thôi; sau này, mấy ngàn năm giáo dục tại Trung Quốc bị ảnh hưởng học thuyết trên mà đào tạo toàn những chàng Thư Sinh mục nát. Đó chính là điểm tệ hại của Ngài vậy”


Ngô Đình Vận
April 10, 2012


(Còn tiếp)




Monday, December 22, 2014

NGÔ ĐÌNH VẬN - TẠP LUẬN 6: KHỔNG TỬ PHỤC TÒNG NGƯỜI ĐẸP DÂM ĐÃNG NAM TỬ


Nam Tử người đàn bà xinh đẹp mà dâm loạn nổi tiếng ở thời Xuân Thu đã thu phục được Khổng Tử chiều theo ý của bà ta. Câu chuyện đặc biệt này đã làm cho uy tín của nhà mô phạm uy nghiêm là Khổng Tử bị hoen ố; dân chúng ở đô thị nước Vệ vào khoảng năm 495 trước Công Nguyên được dịp chê bai rằng “trông kìa Đạo Đức chạy theo gái đẹp”.

Để tìm hiểu câu chuyện hy hữu này, trước hết chúng ta nên biết qua về tình hình chính sự của các nước Lỗ, Tề, Vệ, Tống là bối cảnh diễn ra cuộc gặp gỡ của bà Nam Tử và Thầy Khổng Tử.

Theo các sự kiện được ghi trong sách Luận ngữ, Tả truyện, Sử Ký… chúng ta có được sự tóm tắt như sau:

Nước Lỗ là một nước được cai trị bởi dòng dõi người con trưởng của Cơ Công Đán tức là Chu Công, Khổng Tử sinh ra ở đây nhưng vào thời đó nước Lỗ yếu kém nên phải chịu nép vào nước Tề nằm ở phía Bắc là một nước mạnh trong Ngũ Bá.

Nước Vệ là một nước nhược tiểu do hậu duệ của con thứ Chu Công cai quản vì thế Vệ nằm trong ảnh hưởng của nước Tống ở phía Nam. Nước Tống cũng là một trong Ngũ Bá của thời Xuân Thu.

Theo các sách Luận Ngữ, Sử Ký, Trung Quốc Triết Học Sử… chúng ta có thân thế của các nhân vật chính trong “ván cờ người” bao gồm Khổng Tử, Tử Lộ, Nam Tử, Vệ Linh Công, Tống Trào như sau:

Thứ nhất là Khổng Tử, một ông Thầy chuyên dạy về Đạo Đức, học trò ông có tới trên 3000 người. Ông dạy học trò phải tiết dục, tránh nữ sắc, Khổng Tử cũng coi rẻ phụ nữ.

Khổng Tử từ thời trai trẻ đã luôn nuôi mộng phục hồi cơ nghiệp nhà Chu, ông cho mình là người tài đức sánh với Chu Công và có thể đem cái Đạo của mình ra bình thiên hạ. Khổng Tử cũng rất nổi tiếng vì những lời chê trách với bọn vua, quan các nước độc ác, hiếu dâm, ham sắc.

Thứ hai là Tử Lộ, một đệ tử thân cận của Khổng Tử; Tử Lộ là người ngay thẳng, cương trực; ông này nhiều lần đã can ngăn Khổng Tử không nên giúp đỡ hay ra làm quan dưới trướng hôn quân, bạo chúa.

Đối nghịch với phe Đạo Đức của thầy trò Khổng Tử là bộ ba dâm loạn gồm Nam Tử, Vệ Linh Công, Tống Trào. Bộ ba dâm loạn này chơi trò “ngoại giao nhục dục” để thực hiện các mưu mô chính trị. Thân thế của bộ ba tai quái này được mô tả trong cuốn The Culture of Sex in Ancient China của Paul Rakita Goldin ở các trang 27, 28 có đoạn được Nguyễn Ngọc Bích dịch như sau:

“…Ở trong Tả-truyện có một trường-hợp loạn-luân nổi tiếng khác giữa mấy ông vua và vợ của họ đã làm cho dân-chúng nổi hứng làm thành dân-ca như trong Thi-Kinh:

Vệ-Hầu [tức Vệ Linh-công, trị vì 534-493 tr. CN] cho vợ là Nam-tử mời Tống Trào sang chơi. Họ gặp nhau ở Đào. Thái-tử Khoái-ngoại hiến thành Vu cho Tề, rồi đi qua đồng của Tề. Người dân quê bèn hát rằng: “Đã làm yên con nái động cỡn, sao không mang trả con đực?”.

Nhà bình-luận Đỗ Dự (222-284 sau CN) nói “con nái động cỡn” đây ám chỉ Nam-tử còn “con đực” đây muốn nói đến Tống Trào.

Nam-tử là con gái nhà vua bên Tống, nổi tiếng vì loạn-luân với anh tên Tống Trào. Chồng của Nam-tử, Vệ Linh-công, không những chấp nhận tính dâm-ô của Nam-tử mà còn khuyến khích bằng cách mời Tống Trào sang giao-hoan với Nam-tử ở Đào. Vì có chuyện loạn-luân này nên chuyện thừa ngôi bị đảo lộn hết cả. Do để vợ ngủ với người khác nên Vệ Linh-công đã đi đến chỗ mất con mình.

Thái-tử xấu hổ qúa nên nói với Hi-dương Tốc: “Hãy theo ta vào chầu Thiếu-quân [tức nam-tử]. Khi gặp Thiếu-quân, ta sẽ quay về mi, và mi hãy giết mụ ta.” Tốc nói: “Dạ”. Nhưng khi vào chầu phu-nhân, phu-nhân thấy Thái-tử. Thái-tử ba lần quay lại mà Tốc vẫn không tiến tới. Phu-nhân thấy Tốc biến sắc, vội chạy đi và kê lên: “Khoái-ngoại muốn giết ta.” Vệ Linh-công nắm lấy tay Nam-tử kéo lên một cái đài. Thái-tử trốn khỏi đất Tống.

Vệ Linh-công không còn lựa chọn nào ngoài việc chọn một ngưòi con thứ…”

Sau khi biết rõ về các vai trong “cuộc cờ người” chính trị nói trên, chúng ta tìm về duyên do đã dẫn tới cuộc gặp gỡ đầy tai tiếng của Nam Tử và Khổng Tử.

Theo Luận Ngữ thiên Bát Dật ở các trang 62, 63 được Nguyễn Hiến Lê dịch như sau:

“Vương Tôn Giả vấn viết: “Dữ kì mị ư Áo, ninh mị ư Táo; hà vi dã?” Tử viết: “Bất nhiên hoạch tội ư thiên, vô sở đảo dã.”

Dịch: Vương Tôn Giả (một đại phu cầm quyền ở Vệ) hỏi: Tục ngữ có câu: “Nịnh thần Áo, thà nịnh thần Táo còn hơn; câu ấy có nghĩa là gì?” Khổng Tử đáp: “Mắc tội với Trời thì cầu đảo ở đâu cũng vô ích.”

Chú thích: thần Áo là thần trong nhà, thần Táo là thần trong bếp nước, ăn uống nên quan trọng hơn.

Có người cho rằng Vương Tôn Giả nói bóng bẩy: thần Áo chỉ Vệ Linh Công. Thần Táo chỉ nàng Nam Tử và Di Tử Hà, những người Vệ Linh Công yêu. Khổng Tử như muốn được dùng ở Vệ thì lấy lòng Nam Tử và Hà Di Tử. Khổng Tử cự tuyệt một cách khéo léo. Ông cứ theo đạo trời, ngay thẳng chẳng cần lấy lòng ai cả”.

Đối chiếu với các bản dịch Luận Ngữ trong việc nghiên cứu, chúng ta thấy mỗi dịch giả có một “ngữ thuật” khác nhau và tìm được nhiều điều thú vị.

Sau đây là một thí dụ điển hình có sự khác biệt về “ngữ thuật” của James Legge và Leonard A. Lyall trong đoạn nói về thần Táo và thần Áo.

James Legge dịch như sau:

“Wang-sun Chia asked, saying: What is the meaning of the saying, it is better to pray court to the furnace than to southwest corner? The Master said: not so. He who offends against Heaven has none to whom he can pray”.

Bản dịch của James Legge không có chú thích; bản dịch Anh Ngữ của Leonard A. Lyall thì có phần chú thích:

“Wang-sun Chia said: What is the meaning of it is better to court the Kitchen God than the God of the Home?” “Not at all”, said the Master “A sin against Heaven is past praying for.” (Wang-sun Chia was minister of Wei, and more influential than his Master. The Kitchen God of the Home (the Roman Lares), but since he see all that goes on in the house, and accends to heaven at the end of the year to report what has happened, it is well to be on good terms with him).

Tiếp theo thì Khổng Tử đã yết kiến Nam Tử. Cuộc gặp gỡ hiếm có được sách Triết Học Phương Đông của Nguyễn Đăng Thục trích Luận Ngữ được mô tả như sau: “…Vua Vệ bấy giờ có người vợ tên là Nam Tử nhan sắc rực rỡ và dâm đảng vô cùng. Nàng ấy muốn tiếp ngài. Khổng Tử cố từ chối nhưng phép lịch sự phải vào yết kiến vì theo tục nước ấy hễ ai đến nhận chức gì của nhà vua thì cũng phải vào ra mắt vợ vua. Nàng Nam Tử tiếp ngài ngồi sau tấm màn gai. Khổng Tử hướng về phương Bắc như phủ phục. nàng Nam Tử vái lại hai vái.

Tử Lộ thấy  ngài vào yết kiến Nam Tử lấy làm không bằng lòng. Ngài nói: “Dư sở phủ giả. Thiên yếm chi, thiên yếm chi! Nếu ta có làm điều gì không phải thì trời bỏ ta!” vua Vệ lại chiều nàng Nam Tử mời ngài đi xe theo sau ra chơi ngoài đô thị. Có người cười mà chỉ trỏ: Kìa đạo đức chạy theo gái đẹp. Ngài phải than: Ngô vi kiến hiếu đức nhi hiếu sắc giả dã; Ta chưa từng thấy ai yêu đức tốt như sắc đẹp bao giờ”.

Từ các sự kiện nói trên chúng ta thấy Khổng Tử đôi lần từ chối gặp Nam Tử chỉ là thủ đoạn làm giá để hy vọng có thể mặc cả với triều đình nước Vệ mà thôi.

Tuy vậy dù Khổng Tử đã muối mặt chiều lòng Nam Tử nhưng Vệ Linh Công đã không chịu dùng Khổng Tử làm bất cứ chức vụ gì, và rồi Khổng Tử chán nản nước Vệ lên đường đi tìm việc ở vài nước khác.

Về biến chuyển ở nước Vệ theo sách The Culture of Sex in Ancient China có đoạn được Nguyễn Ngọc Bích dịch như sau: “Ba năm sau, khi Linh Công chết, người con thứ từ chối lên ngôi. Nam Tử buộc lòng phải chấp nhận người con của chính kẻ tính giết mình lên ngôi ở nước Vệ.”

Nước vệ có vua mới, tình thế đổi thay, Khổng Tử quên lời thề ở đất Bồ rằng “không bao giờ trở lại Vệ nữa”. Khổng Tử đã tới lảng vảng ở thành đô nước Vệ, việc này trong sách Khổng Tử của Nguyễn Hiến Lê trang 72 viết rằng:

“Mùa hè năm 493, trong khi Khổng Tử ở Trần thì Vệ Linh Công chết. Bây giờ (488) ông trở về Vệ thì cháu nội Linh Công là Xuất Công Triếp đã lên ngôi. Đáng lẽ ngôi vua về Khoái Quý là cha của Triếp, nhưng Khoái Quý chống mẹ là Nam Tử, có lần muốn sai người ám sát mẹ dâm loạn, việc không thành, phải trốn qua Tề. Vì vậy Nam Tử cho Triếp lên để cự lại cha. Triều đình Vệ cực đồi bại.

Khi tới Vệ, Tử Lộ hỏi Khổng Tử: Nếu vua Vệ giữ thầy lại mà nhờ thầy coi chính sự thì thầy làm việc gì trước? Khổng Tử đáp: Tất phải chính danh trước hết chăng? Tử Lộ nói: Vậy ư? Lời thầy vu khoát rồi. Sao lại phải chính danh? Khổng Tử nói: Do, anh thật thô thiển. người quân tử có điều gì không biết thì không nói bậy. Nếu danh hiệu không chính (xác) thì lời nói không thuận lý (vì danh hiệu không hợp với thực tế), lời nói không thuận thì sự việc không thành; sự việc không thành thì lễ nhạc, chế độ không kiến lập được thì hình phạt không trúng; hình phạt không trúng thì dân không biết đặt tay chân vào đâu (không biết thế nào cho phải). Cho nên người quân tử đã dùng cái danh thì tất phải nói ra được (tất phải thuận lý); đã nói điều gì tất phải làm được. Đối với lời nói, người quân tử không thể cẩu thả được.” (XIII. 3).

Khổng Tử mắng Tử Lộ là thô thiển, tuy nhiên chúng ta thấy chính lời nói và việc làm của Khổng Tử đã không đi đôi với nhau, Khổng Tử từng có ít nhất hai lần chê không thèm nịnh Nam Tử nhưng rồi cuối cùng ông lại phục tùng Nam Tử. Khổng Tử thề ở đất Bồ là sẽ không bao giờ trở lại nước Vệ nữa nhưng bây giờ quyền hành thực sự ở Vệ nằm trong tay Nam Tử thì Khổng Tử đã quay lại nước Vệ với hy vọng được triều đình nước Vệ tin dùng. Khổng Tử đã đổi ý liên tục khiến chúng ta nhớ tới câu tục ngữ đầy tính mỉa mai “quân tử nhất ngôn là quân tử dại, quân tử nói đi nói lại là quân tử khôn.”

Khổng Tử nhà đạo đức “nói đi nói lại” mà cũng chẳng trở thành người khôn. Khổng Tử và một số đệ tử lảng vảng ở thành đô nước Vệ nhưng Nam Tử chẳng thèm ngó ngàng gì tới.

Đọc trong Luận Ngữ một cuốn sách được coi là khả tín, ít bịa đặt nhất của Khổng Nho nhưng chúng ta cũng nhận thấy có quá nhiều mâu thuẫn từ lời nói tới việc làm của thầy trò Khổng Tử. 

Chính vì kẻ giảng dạy Đạo Đức mà còn “tiền hậu bất nhất” thì làm sao tránh được các lời đàm tiếu, dị nghị. Nội việc nhà Đạo Đức Khổng Tử giao tiếp với Dâm Nữ Nam Tử cũng là chuyện để các học phái ngoài nho gia chỉ trích, phê bình đến độ nghi ngờ luôn cả sách Luận Ngữ. Nhiều nhà nghiên cứu đời sau không thỏa mãn về việc Luận Ngữ ghi lại quá sơ lược về chuyện Khổng Tử gặp Nam Tử rồi bị Tử Lộ  trách cứ.

Sách Luận Ngữ có thể do nhóm đệ tử còn ở lại Khúc Phụ để giữ trường sở của Khổng lâm và thờ Khổng Tử, trong đó có Tử Cống là thương gia giầu có và Nam Cung Quát là dòng dõi thế gia của nước Lỗ đồng thời cũng là cháu rể Khổng Tử. Nhóm chủ trương viết Luận Ngữ có thế, có tiền thì dễ dàng lèo lái, thao túng việc biên soạn. Riêng Tử Lộ thì đã chết rồi làm sao có thể cãi được các điều Luận Ngữ viết. Cũng có thể vì vậy đã có chuyện chia rẽ nặng nề của hàng đệ tử sau khi Khổng Tử qua đời.

Ngay từ đời Chiến Quốc, đời Tần, đời Hán đã có nhiều người chê trách Khổng Tử phục tùng Nam Tử. Một trong các sự chế diễu cay độc là của Vương Sung “Wang Ch’ ung” (27-97).

Tài liệu này được hai học giả Siegfried Englert và Roderich Ptak thuộc đại học Heidelberg (Đức Quốc) dùng làm tài liệu để viết một bài báo với tựa “Nan-Tzu, or why Heaven did not crush Confucius”. Bài này sau đó được đăng trên tờ American Oriental Society, Vol. 106, No. 4 (Oct. – Dec., 1986).

Bài viết này có lời chế nhạo của Vương Sung được Nguyễn Ngọc Bích dịch như sau:

“Có lần Vương Sung (27 đến khoảng 97 theo CN) đem ra giễu chuyện này. Ông ta không tìm cách làm sáng tỏ những vụ việc được kể lại (một chuyện khá tế-nhị như ta sẽ được thấy sau này); ông chỉ "théc méc" về lời thề của Khổng-tử và do đó, có thể cho ta ngờ vực về tính khả tín của họ Khổng:

"Tôi [nghĩa là Vương Sung] hỏi: “Bằng cách chạy tội như vậy thì Khổng-tử có thực-sự chứng minh được là mình vô tội không?” Nếu quả đã có lần Trời sụp và đè chết người ta vì người này làm chuyện ô nhục thì ông Khổng có quyền nhắc đến, thậm chí cả thể độc như thế. Tử-lộ sẽ có nhiều khả-năng là tin ông ta và như vậy ông ta sẽ được bạch-hoá. Đằng này, chưa bao giờ ai thấy có người bị Trời đè cả. Như vậy thì liệu Tử-lộ có tin được lời thề là nếu ông ta nói láo thì Trời sẽ đè ông ta chết không?

"Chuyện đôi khi xảy ra là có người bị sét đánh chết, hoặc chết đuối hoặc bị hoả-hoạn hay bị một bức tường đổ vào người mà chết. Giá mà ông Khổng nói: “Hãy để cho tôi bị sét đánh, hay chết đuối hay bị cháy, hoặc bị một cái tường đổ mà đè chết tôi," thì Tử-lộ chắc chắn đã tin ông ta. Nhưng đằng này, ông lại thề thốt với Tử-lộ bằng một tai-nạn mà chưa bao giờ ai thấy xảy ra ở trên đời. Nói vậy thì làm sao mà xoá được hết nghi ngờ trong óc của Tử-lộ và làm cho Tử-lộ tin được?"

Nếu sự việc xảy ra đúng như trong đoạn trích trên đây thì Khổng-tử đã ở trong một thế nan-giải, bởi làm sao mà ông chứng minh được là ông ta đã chỉ có một cuộc diện-kiến chính-thức? Vì nói cho cùng, con người ta thì dễ ngả về hướng tưởng tượng ra những chuyện giựt gân.”

Để kết thúc câu chuyện Khổng Tử liên hệ với Nam Tử; một câu chuyện khá phức tạp, nhiều ngoắt ngéo đã gây ra các tranh luận từ thời Xuân Thu cho tới ngày nay đầu thế kỷ 21. Chúng ta dựa vào các tài liệu ghi trong Luận Ngữ, Tả Truyện, Sử Ký, các phê bình, giải thích Luận Ngữ của Trình Y Xuyên, Chu Hy… Chúng ta có thể có được một giả thuyết với các luận điểm như sau: 

Quan hệ tính dục tay ba giữa Nam Tử, Vệ Linh Công, Tống Trào là một “thủ đoạn ngoại giao” bệnh hoạn. Nước Vệ cần được sự che chở của nước Tống nên Vệ Linh Công đã chiều lòng Nam Tử để bà này tiếp tục gian dâm với anh cùng cha khác mẹ là Tống trào. Đổi lại Nam Tử để yên cho Vệ Linh Công được sủng ái Hà Di Tử cùng với bà ta.

Các chuyện dâm loạn ở triều đình nước Vệ vốn bị dư luận chê trách nên Nam Tử và Vệ Linh Công muốn dùng “con cờ” Khổng Tử để giải trừ bớt các chỉ trích của dư luận với triều đình. Phần khác vì tự ái, tò mò Nam Tử quyết đòi Khổng Tử gặp riêng bà ta rồi mời Khổng Tử theo xe đi chơi ngoài đô thị.

Khổng Tử nhà Đạo Đức đương thời mà còn theo phò Nam Tử thì còn ai dám chê bai Nam Tử nữa.

Về phía Khổng Tử, ông đã cố gắng chiều lòng Nam Tử với âm mưu là sẽ được Vệ Linh Công tin dùng để từ cái nước nhỏ này, ông dùng làm bàn đạp để thi thố tài năng của ông mà ông thường nói là phục hồi chế độ Nhà Chu.

Trong “ván cờ người” này, Nam Tử thắng còn Khổng Tử thì thua thê thảm ấy là chưa nói về chuyện giựt gân mà Vương Sung đã gợi sự tò mò cho hậu thế để có hứng nghiên cứu Khổng Nho.

Ngô Đình Vận
March 28, 2012


(Còn tiếp)