Lac Viet Humanistic Culture
Tuesday, January 6, 2015
LỄ CHÀO CỜ ĐẦU NĂM 2015 TẠI TƯỢNG ĐÀI ĐỨC THÁNH TRẦN - LITTLE SAIGON, WESTMINSTER, CALIFORNIA
Little Saigon, (VanHoaNBLV) - Chương Trình Văn Hóa Nhân Bản Lạc Việt ghi lại một số hình ảnh về buổi Lễ Chào Cờ Đầu Năm 2015 được tổ chức vào sáng Thứ Bảy ngày 03 tháng 01 năm 2015 tại Tượng Đài Đức Thánh Trần, 9078 Bolsa Ave., thuộc Thành phố Westminster, Miền Nam California, Hoa Kỳ.
LỄ CHÀO CỜ ĐẦU NĂM 2015 TẠI TƯỢNG ĐÀI ĐỨC THÁNH TRẦN - LITTLE SAIGON, WESTMINSTER, CALIFORNIA
![]() |
LỄ CHÀO CỜ ĐẦU NĂM 2015 TẠI TƯỢNG ĐÀI ĐỨC THÁNH TRẦN - LITTLE SAIGON, WESTMINSTER, CALIFORNIA
Little Saigon, Westminster (VanHoaNBLV) - Chương Trình Văn Hóa Nhân Bản Lạc Việt ghi lại một số hình ảnh về buổi Lễ Chào Cờ Đầu Năm 2015 được tổ chức vào sáng Thứ Bảy ngày 03 tháng 01 năm 2015 tại Tượng Đài Đức Thánh Trần, 9078 Bolsa Ave., thuộc Thành phố Westminster, Miền Nam California, Hoa Kỳ. View or comment on VanHoaNBLV's album » |
Monday, January 5, 2015
VIỆT CỘNG MỞ VIỆN KHỔNG TỬ KHIẾN TOÀN DÂN VIỆT NAM CÀNG THÙ GHÉT GIẶC TẦU
Little
Saigon (VanHoaNBLV) - Trung Cộng và Việt Cộng khai trương Viện Khổng Tử tại Đại
Học Hà Nội đã là một hành động "đổ dầu vô lửa" khiến đại đa số dân Việt
ở quốc nội cũng như hải ngoại càng thù ghét bọn xâm lược Trung Cộng nhiều hơn.
Nhân
buổi Lễ Chào Cờ Đầu năm 2015
đã được tổ chức vào sáng ngày Thứ Bảy 03
tháng 01 năm 2015 tại Tượng Đài Đức
Thánh Trần, 9078 Bolsa Ave., thuộc Thành
phố Westminster, Miền Nam California, Hoa Kỳ; Chương Trình Văn Hóa Nhân Bản Lạc
Việt đã phỏng vấn một số quý đồng hương về đề tài đã dược nêu trên, gồm các vị:
Ông Phan Kỳ Nhơn, Chủ Tịch Liên Ủy Ban Chống Cộng
Sản và Tay Sai, Liên Đoàn Cử Tri Người Mỹ Gốc Việt Nam California.
Ông Lê Quang Dật, Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử
Miền Quảng Đức.
Tiến Sĩ Phạm Kim Long, Nguyên Ủy Viên Hội Đồng
Giáo Dục Orange County
Sunday, January 4, 2015
PHỤ NỮ VIỆT NAM Ở MỸ ĐÒI DẸP KHỔNG TỬ VÌ TỘI KHINH MIỆT NỮ GIỚI
Little
Saigon (VanHoaNBLV) - Phụ Nữ Việt Nam ở Hoa Kỳ đã phẫn nộ về việc Việt Cộng và
Trung Cộng mới khai trương Viện Khổng Tử tại Đại Học Hà Nội ngày 27 tháng 12
năm 2014.
Trong
cuộc phỏng vấn của Văn Hóa Nhân Bản Lạc Việt các chị Phạm Minh Huệ, Hội Ái Hữu
Cựu Nữ Sinh Gia Long Nam California và chị Nguyễn Mộng Tâm, Cựu Hội Trưởng Hội
Cựu Nữ Sinh Trưng Vương đã lên án học thuật Khổng Tử là hủ bại vi phạm vào các
tội kỳ thị nữ giới, kỳ thị chủng tộc, kỳ thị tôn giáo và kỳ thị giai cấp.
Saturday, January 3, 2015
CHRIS PHAN ĐƯỢC ĐỒNG HƯƠNG ỦNG HỘ TRANH CỬ CHỨC GIÁM SÁT VIÊN ĐỊA HẠT 1 QUẬN CAM
Little
Saigon (VanHoaNBLV) - Nghị Viên Chris Phan thuộc Hội Đồng Thành Phố Garden
Grove và cũng là Phó Biện Lý Khu Quận Orange được nhiều đại diện các đoàn thể
thuộc Cộng Đồng Việt Nam Miền Nam California tích cực ủng hộ trong cuộc tranh cử
vào chức vụ Giám Sát Viên Địa Hạt 1 thuộc Orange County.
Cuộc
bầu phiếu sẽ diễn ra vào Thứ Ba ngày 27 tháng 01 năm 2015 tại các khu vực liên
hệ trong địa hạt.
Trong Tập Phiếu Bầu Mẫu và Hướng Dẫn Cử Tri đã gởi về địa chỉ của cử tri trong Quận Hạt, Nghị Viên Chris Phan phát biểu:
Là
người tị nạn trước đây, tôi may mắn được trải nghiệm Giấc Mơ Của Người Hoa Kỳ!
Tôi đã phục vụ đất nước của chúng ta với niềm vinh dự và hãnh diện trong cương
vị một sĩ quan Hải Quân trong hơn 14 năm. Tôi hiện đang phục vụ cộng đồng của
chúng ta trong cương vị Phó Biện Lý Khu Quận Orange và Ủy Viên Hội Đồng Thành
Phố Garden Grove. Tôi trân trọng yêu cầu quý vị ủng hộ tôi làm Giám Sát Viên Địa
Hạt 1 của Quận Orange. (As a former refugee, I am blessed to live the American
Dream! I have served our country with honor and pride as a Navy officer for
over 14 years. I am currently serving our community as an Orange County Deputy
District Attorney and a Garden Grove City Councilmember. I humbly ask for your
support to become your 1st District Orange County Supervisor).
Chương Trình Văn Hóa Nhân Bản Lạc Việt trong dịp
Lễ Chào Cờ Đầu năm 2015 đã phỏng vấn một số quý đồng hương về đề tài đã được
nêu trên vào sáng ngày Thứ Bảy 03 tháng 01 năm 2015 cạnh Tượng Đài Đức Thánh Trần, 9078 Bolsa Ave.,
thuộc Thành phố Westminster, Miền Nam California, Hoa Kỳ.
NGÔ ĐÌNH VẬN - VĂN HÓA NHÂN BẢN LẠC VIỆT / DÂN VIỆT LẬP NƯỚC VIỆT
Dân việt Lập Nước Việt
Theo
sử Việt, qua phần Ngoại Kỷ của Bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, sử thần Ngô Sĩ Liên
soạn năm 1479, ghi rằng:
“Xét:
Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất
Bách Việt. Vua Nghiêu sai Hy thị đến ở Nam Giao để định đất Giao Chỉ ở phưong
Nam. Vua Vũ chia chin châu thì Bách Việt thuộc phần đất Châu Dương, Giao Chỉ
thuộc về đấy . Từ đời Thành Vương Nhà Chu (1063-1026 TCN) mới gọi là Việt Thường
thị, tên Việt bắt đầu có từ đấy.”
“Kỷ
Hồng Bàng Thị Kinh Dương Vương tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông.
Nhâm
Tuất năm thứ 1. Xưa cháu ba đời Viên Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế
Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên,
sinh ra vua (Kinh Dương Vương). Vua là bậc thánh trí thông minh. Đế Minh rất
yêu quí, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh
mới lập Đế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh
Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ.
Vua
lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần long sinh ra Lạc Long Quân (xét: Đường Kỷ
chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động
Đình Quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động
Đình Quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau từ
lâu rồi).
Lạc
Long Quân tên húy là Sùng Lãm, con của Kinh Dương Vương.
Vua
lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm con trai (tục truyền sinh trăm trứng),
là tổ của Bách Việt. Một hôm, vua bảo Âu Cơ rằng: ta là giống rồng, nàng là giống
tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó. Bèn từ biệt nhau, chia con theo mẹ
về núi, 50 con theo cha về ở miền Nam (có bản chép là về Nam Hải), phong con
trưởng là Hùng Vương, nối ngôi vua.
Hùng
Vương con Lạc Long Quân (không rõ tên húy), đóng đô ở Phong Châu (nay là huyện
Bạch Hạc).
Hùng
Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang (nước này đông giáp biển Nam Hải, tây
đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành,
nay là Quảng Nam), chia nước làm 15 bộ là Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc,
Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình
Văn, Tân Hưng, Cửu Đức; đều là đất thần thuộc Hùng Vương; còn bộ gọi là Văn
Lang là nơi vua đóng đô. Dặt tướng văn là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng
(chữ Lạc Tướng sau chép sai là Hùng Tướng). Con trai vua gọi là Quan Lang, con
gái vua gọi là Mỵ Nương. Quan coi việc gọi là Bố Chính, đời đời cha truyền con
nối, gọi là phụ đạo. Vua các đời đều gọi là Hùng Vương. Bấy giờ dân ở rừng núi
thấy ở sông ngòi khe suối đều có tôm cá, nên rủ nhau đi bắt cá để ăn, thường bị
thuồng luồng làm hại, đến thưa với vua. Vua nói:Người man ở núi khác với các
loài thủy tộc; các thủy tộc ấy ưa cùng loài mà ghét khác loài, cho nên mới bị
chúng làm hại. Rồi vua bảo mọi người lấy mực vẽ hình thủy quái ở mình. Từ đấy
thuồng luồng trông thấy không cắn hại nữa. Tục vẽ mình của người Bách Việt có lẽ
bắt đầu từ đấy”.
Ba
đoạn sử về thời thượng cổ của dân Việt nêu trên, chúng tôi trích từ tập thứ nhất
của Bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, bản khắc chữ Hán năm Chính Hòa 1697 do Thư Viện
Trường Viễn Đông Bác Cổ ở Paris Pháp Quốc lưu giữ và được dịch giả Ngô Đức Thọ
dịch ra quốc ngữ do nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội phát hành năm 1998 tại Hà Nội
(chương trình xuất bản này được Unesco tài trợ).
Bản
(Hán văn) Chính Hòa 1697 là bản cổ nhất còn tìm lại được và bản dịch ra quốc ngữ
của ông Ngô Đức Thọ là bản dịch mới bây giờ so với bản Hán văn khác được dịch
giả Nhượng Tống dịch từ năm 1944.
Về sử
sách của người phương Bắc nhắc tới một nước Việt cổ, chúng ta có thể lướt qua một
số sử liệu đưọc trích dẫn trong cuốn Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam của Giáo sư Phạm
Cao Dương xuất bản năm 1987, trong đó có những chuyện như sách Sử Ký của Tư Mã
Thiên đời nhà Hán (145 trước Công Nguyên) đã ghi rằng: năm Tân Mão (1109 trước
Công Nguyên) đất Việt là Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nam
Hải, Nhật Nam đều là phần của Việt xâm mình, cắt tóc để tránh giao long làm hại.
Sách
Cương Mục Tiền Biên của Kim Lý Tường và sách Thông Trí của Trịnh Tiều đời Tống
(960-1279) viết về chuyện nước Việt Thường cống Rùa thần cho vua Nghiêu
(2377-2250 trước Công Nguyên).
Sách
An Nam Chí Nguyên của Cao Hùng Trưng ghi rằng: “Giao Chỉ khi chưa đặt thành quận, huyện, bấy giờ có ruộng Lạc, theo nước
triều lên xuống mà làm ruộng, làm ruộng là Lạc Dân, thống trị dân là Lạc Vương,
người giúp việc là Lạc Tướng đều dùng ấn đồng, thao (dây) xanh, nước gọi là Văn
Lang. Phong tục thuần hậu, mộc mạc, chưa có chữ nghĩa, còn dùng lối thắt nút
dây làm dấu ghi nhớ”.
Tìm
đọc qua một số sách sử cũ chúng ta thấy rằng phần đông các tác giả đời sau (sau
ông Ngô Sĩ Liên) đều bầy tỏ sự nghi ngờ về các truyền thuyết thần thoại.
Chẳng
hạn như trong cuốn Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sỹ (1726-1780) do hội Việt Nam
Nghiên Cứu Văn Hóa Á Châu dịch và xuất bàn năm 1960 tại Sài Gòn; chúng ta thấy
tác giả Ngô Thời Sỹ viết: “Xét nước Việt ta lập quốc tuy ở sau đời vua Hy và
Hiệt nước Tầu, mà văn tự chưa có, ký tái còn thiếu, về phần thế thứ niên kỷ,
chính trị phong tục đáng nghi hay đáng tin đều không có gì đủ làm chứng cứ. Ông
Chu Tử nói rằng đọc sách không nên để sử quan dối được mình, cho nên chữ Quách
Công, Hạ Ngũ trong sách Xuân Thu cũng còn có sự ngờ. Ông Mạnh Tử ở thiên Vũ
Thánh chỉ trích lấy hai, ba đoạn mà thôi, nếu dẫn cùng lời nói mà không xét đến
lẽ phải, tác giả dối ta, ta lại tin vào đó để dối người sau, có nên không?”.
Dưới
triều vua Tự Đức (1847-1883) là giai đoạn hoàn tất bộ Khâm Định Việt Sử Thông
Giám Cương Mục năm 1881 thì cả nhà Vua lẫn ông Tổng Tài (người đứng đầu ban soạn
sử) Phan Thanh Giản đều bầy tỏ sự hoài nghi về huyền sử do sử thần Ngô Sĩ Liên
thời trước viết vào phần Ngoại Sử của bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư.
Về mặt
di vật lịch sử liên quan tới dân Lạc Việt, chúng ta thấy trên mặt trống đồng Ngọc
Lũ có hình đầu rồng giao hòa với chim Việt (đầu thuyền rồng); Theo Triết gia
Kim Định, trong các cuốn Sứ Điệp Trống Đồng và Hùng Sử Việt Ca thì cho rằng đây
là biểu tượng giao hòa của Tròn Vuông, Trời Đất, Rồng Tiên, Đực Cái tức là
nguyên lý của Âm Dương.
Duyệt
qua một số sự kiện nêu trên, chúng ta thấy được nhiều điểm quan trọng:
Thứ
nhất : Việc có một nước Việt cổ là điều có thật, Tư Mã Thiên là
một sử gia nổi tiếng ngay thẳng nên khi ông ghi chuyện Việt Thường cống Bạch
Trĩ cho Chu Thành Vương hẳn ông phải dựa vào một sử liệu đáng tin cậy.
Thứ
Hai : Lịch sử của nhiều dân tộc và tôn giáo đều có các chuyện
thần thoại; Thần thoại như một nhu cầu của sinh hoạt loài người vì vậy chúng ta
không nên truy cứu thần thoại mà chỉ xem như các dụ ngôn của tiền nhân để lại.
Thứ
Ba :
Dân Việt từ nhiều đời qua đã hãnh diện về nòi giống con Rồng Cháu Tiên của
mình; đây là sự thật hiển nhiên khiến dân Việt đã cố gắng sống xứng đáng với
nguồn gốc Thần linh đó.
Người
Việt từ lâu đã lập đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương ở Phú Thọ miền Bắc Việt Nam và chọn
ngày mồng 10 tháng 3 Âm Lịch làm ngày Giỗ Tổ. Về việc dân chúng sùng bái Quốc Tổ
theo sách Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Qúy Đôn trong phần Linh Tích có đoạn ghi “Thôn Cổ Tích, xã Mỹ Cương, huyện Sơn Vi là
dân tạo lệ ở miếu thờ Thánh Tổ Hùng vương. Khoảng đầu niên hiệu Vĩnh Thịnh
(1705 đời vua Lê Dụ Tông), người trong thôn bàn việc sửa sang miếu thờ, cử người
đi lấy gỗ ở thượng lưu sông Thao…”
Dân
Việt cũng có câu phong dao:
“Dù
ai đi ngược về xuôi
Nhớ
ngày giỗ Tổ mồng 10 tháng Ba”.
Để
nhắc nhở dân gian tưởng nhớ tới công đức của tiền nhân đã lập ra nước Việt theo
đúng tinh thần câu tục ngữ Uống nước nhớ
nguồn.
Ngô Đình Vận
Santa
Ana, California 2005
Friday, January 2, 2015
NGÔ ĐÌNH VẬN - VĂN HÓA NHÂN BẢN LẠC VIỆT / KHÁI NIỆM VĂN HÓA NHÂN BẢN LẠC VIỆT
Khái Niệm Văn Hóa Nhân Bản Lạc Việt
Văn
Hóa là hai tiếng mà chúng ta thường dùng đến hằng ngày; việc sử dụng từ ngữ Văn
Hóa trong các câu chuyện thông thường thì cả người nói lẫn người nghe đều hiểu
một cách khái quát miễn sao cảm được cái ý chính của hai chữ Văn Hóa trong câu
chuyện.
Tuy
nhiên, khi cần phải định nghĩa từ ngữ Văn Hóa thì thật là một điều rắc rối, phức
tạp.
Mở
cuốn Việt Nam Tự Điển do Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo và phát hành ở Hà Nội
năm 1931 thì thấy ghi “Văn Hóa; sự giáo dục cho văn học đã thấm vào trí não
người ta”.
Một
định nghĩa khác trong cuốn Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh xuất bản năm 1932
thì viết: “Văn hóa; Văn vật và Giáo hóa, dùng văn tự mà giáo hóa cho người”.
Cuốn
sách thứ ba là Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức do nhà Khai Trí in năm 1970 tại
Sài Gòn thì lại viết: “Văn Hóa; Văn Học và Giáo Dục tức sự học hỏi, dạy dỗ chữ nghĩa, văn chương”.
Đương
nhiên là cả 3 cách định nghĩa trong 3 cuốn tự điển nêu trên đều quá vắn tắt và
không đưa ra được một định nghĩa rõ ràng về hai chữ Văn Hóa.
Như
vậy thì Văn Hóa là gì, Tìm đọc cuốn Việt Nam Văn Hóa Sử Cương của Đào Duy Anh
viết xong ở Cố đô Huế năm 1938 thì mới vỡ lẽ ra là ngay cả vị học giả nổi tiếng
này cũng từng bối rối về hai chữ Văn Hóa.
Ngay
ở bài Tựa của cuốn sách Việt Nam Văn Hóa sử Cương, học giả Đào Duy Anh đã viết:
“Theo giới thuyết của Felix Sartiaux thì Văn Hóa về phương diện động, là cuộc
phát triển tiến bộ mà không ngừng của những tác dụng ấy tuy liên lạc mà vẫn
riêng nhau. Về phương diện tĩnh thì Văn Hóa là trạng thái tiến bộ của những tác
dụng ấy ở một thời gian nhất định và tất cả các tính chất mà những tác dụng ấy
bầy ra ở các xã hội loài người”.
Học
giả Đào Duy Anh cũng viết rõ rằng: “dựa theo giới thuyết của Felix Sartiaux
mà chia đại khái ra ba bộ phận như sau:
1.
KinhTế Sinh Hoạt.
2.
Xã Hội Sinh Hoạt.
3.
Trí Thức Sinh Hoạt.
Tiếp
đó, trong Thiên Thứ Nhất, phần Tự Luận, học giả Đào Duy Anh đã đặt ngay cái tiểu
mục bằng câu hỏi “Văn Hóa là gì?”, để rồi đi đến kết luận: “Hai tiếng
Văn Hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các Phương diện sinh hoạt của loài
người cho nên ta có thể nói rằng: Văn Hóa tức là sinh hoạt”.
Học
giả Đào Duy Anh cũng dẫn giải thêm: “Văn Hóa đã là sinh hoạt thì không kể là
dân tộc văn minh hay dã man đều có văn hóa riêng của mình, chỉ khác nhau về
trình độ cao thấp mà thôi”.
Tìm
một sách có cái tựa Văn Hóa khác là cuốn Văn Hóa Dân Tộc và Văn Hóa Lưu Vong của
Phạm Kim Vinh xuất bản năm 1986 tại miền Nam California, Hoa Kỳ thì cũng thấy
ngay nỗi băn khoăn của tác giả về hai chữ Văn Hóa.
Luật
Sư Phạm Kim Vinh cũng trích dẫn các điều lý giải về hai chữ Văn Hóa của học giả
Đào Duy Anh và ông Phạm Kim Vinh còn chịu khó trích dẫn các ý kiến của học giả
Hoàng Văn Chí và giáo sư Nguyễn Khắc Kham như sau:
“Học
giả Hoàng Văn Chí thì cho rằng tuy mọi người đều hiểu đại khái về Văn Hóa là gì
nhưng định nghĩa danh từ ấy là một việc rất khó, bằng chứng là trong cuốn
Review of Anthropology xuất bản năm 1977, có tất cả 127 định nghĩa khác nhau”.
Giáo
sư Nguyễn Khắc Kham cũng từng viết: “Những hình thức biểu hiệu của Văn Hóa
Việt Nam là ngôn ngữ, văn tự, thơ văn và nghệ thuật”.
Qua
các sự tìm kiếm, góp nhặt nói trên, chúng tôi thấy mình bị rơi vào hoàn cảnh của
câu chuyện cổ “mù sờ voi”, càng tìm kiếm thì càng lạc vào cõi mơ hồ,
mênh mông của hai chữ Văn Hóa.
Đọc
một số ý kiến của các bậc cha, anh đi trước, chúng tôi dựa vào các vị này để “chẳng
đặng đừng” phải chọn một định nghĩa Văn Hóa tương đối và thích hợp với chủ
đề “Văn Hóa Nhân Bản Lạc Việt”.
Định
nghĩa trong phạm vi của cuốn sách nhỏ Văn Hóa Nhân Bản Lạc Việt này là Văn Hóa
bao gồm mọi mặt của đời sống con người trên cả hai phương diện tinh thần và vật
chất.
Thật
ra thì trong cuốn sách kiểu tóm tắt nầy chúng tôi muốn góp ý rằng Văn Hóa Lạc
Việt là một nền Văn Hóa Nhân bản, Đa chủng, Đại chúng và Thực dụng.
Tiện
đây, chúng tôi cũng chọn việc định nghĩa các từ ngữ Nhân bản Lạc Việt, Đa chủng,
Đại chúng, Thực dụng vì các chữ này đều là từ ngữ Hán Việt.
Nhân
bản là cái tính gốc của con người gồm cả tốt và xấu nhưng theo thói quen thì
bây giờ nói tới Nhân bản người ta chỉ còn hiểu là các tinh tốt.
Ở
đây chúng tôi chọn ý nghĩa được hiểu theo cách bây giờ; như vậy bất cứ chủng tộc
nào cũng có nhân bản, sự khác biệt nhau nằm ở chỗ tùy từng sắc tộc bầy tỏ, ứng
dụng, phát triển để thích ứng với hoàn cảnh, địa dư. Chính sự khác biệt này là
nét đặc thù của mỗi sắc tộc.
Lạc
Việt theo cuốn Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn, tác giả đã trích dẫn rằng: “Ông
Đào Duy Anh cho rằng nhóm Lạc Việt ấy đã thường tự sánh mình với một giống
chim hậu điểu cứ đến mùa gió bấc lạnh lẽo cũng rời bờ biển Giang Nam với họ và
tiến xuống miền Nam, đến khi mùa nóng trở về thì chim và người cùng quay lại chốn
cũ. Dần dần trong tâm lý của họ phát sinh ra quan niệm tô tem Họ nhận giống
chim Lạc là vật tổ rồi lấy tên của giống chim này đặt cho thị tộc của mình”.
Tuy
nhiên việc chính yếu ở đây là chúng tôi muốn ghi nhận và nghiên cứu về thời kỳ
Lạc Việt, tiếp đến là giai đọan Hùng Vương với nền Văn Minh Đồ Đồng vào khoảng
trên 400 năm trước Tây Lịch.
Đại
chúng là đông người, thí dụ như ca dao, tục ngữ của dân Việt là do sự sáng tạo
của nhiều người thuộc nhiều đời để lại.
Về nội
dung của cuốn sách nhỏ này, chúng tôi sẽ trình bầy tóm tắt theo thói quen viết
báo. Các bài viết sau đây chỉ là kết quả của sự tìm đọc, phân tích cũng như
quan sát cuộc sống bình thường của người Việt để trình bầy các thí dụ điển
hình, giản dị.
Vì
phương tiện và khả năng hạn hẹp, chúng tôi không thể đi sâu vào các lãnh vực
chuyên môn như Lịch sử, Triết học, Nhân chủng, Khảo cổ, Xã hội, Khoa học.
Việc
trình bầy đề tài Văn Hóa Nhân Bản Lạc Việt, chúng tôi sẽ dựa vào các yếu tố sau
đây:
Thứ
nhất: một số truyền thuyết được coi như những chuyện cổ tích
liên quan đến thời đại Hùng Vương.
Thứ
hai:
tiếng nói của dân Việt.
Thứ
ba:
phong tục tập quán của dân Việt.
Thứ
tư:
các di vật còn nhìn thấy, sờ mó được như đồ đồng, đồ gốm.
Từ 4
yếu tố trên bầy tỏ rằng từ khởi đầu dân Việt có một nền Văn Hóa riêng với những
nét đặc thù của dân tộc.
Các
đặc thù ấy không thể đem so sánh với bất cứ nền văn hóa của các sắc tộc khác vì
người ta chỉ có thể so sánh cao thấp về Văn Minh của một xã hội bán khai với một
xã hội tân tiến mà thôi.
Từ
các chất liệu riêng biệt đó dân Lạc Việt giao tiếp với sắc tộc khác nên có thêm
yếu tố thuộc về Văn Hóa của các chủng tộc khác để rồi biến thành một nền Văn Hóa
có cả cái đặc thù và sự dung nạp, pha trộn được gọi là Văn Hóa Đa chủng.
Mặt
khác, qua tiến trình lịch sử của dân Việt, nhiều tiếng nói, phong tục, tập quán
đã biến đổi theo hoàn cảnh, theo thời gian.
Có
các tiếng cổ đã mất hẳn, có các tập tục đã bị đào thải nhưng nó vẫn nằm trong
tiến trình lịch sử của một dân tộc, chẳng hạn như tục lệ vẽ mình, nhuộm răng,
ăn trầu của người Việt.
Tóm
lại các yếu tố Văn Hóa cũng được phân loại như kiểu cổ ngữ và sinh ngữ tức là
những gì đã lỗi thời thì chỉ còn lại trong sử sách, những gì hay, tiếp tục ứng
dụng thì vẫn còn thấy được trong đời sống của dân Việt bây giờ.
Từ
các ý kiến nói trên, chúng tôi thấy rằng qua những nét văn hóa đặc thù của mỗi
chủng tộc, chung ta sẽ có thể tìm biết rằng chủng tộc ấy có quan niệm về sự sống
thế nào và sinh hoạt ra sao.
Do
đó, các chế độ, những chính sách chủ trương tiêu diệt văn hóa của sắc tộc khác
là điều lầm lẫn vì nó làm mất đi sự phong phú của di sản văn hóa nhân loại.
Ngô Đình Vận
Santa
Ana, California 2005
Subscribe to:
Posts (Atom)




